Hội nghị nghiệm thu cấp Bộ Công Thương, đề tài do Viện Khoa học Công nghệ Mỏ-Vinacomin chủ trì thực hiện

Ngày 24/5/2017, Bộ Công Thương đã tổ chức nghiệm thu 3 đề tài do Viện Khoa học Công nghệ Mỏ-Vinacomin chủ trì thực hiện: 1) Nghiên cứu lựa chọn vật liệu chèn hợp lý trong công nghệ chèn lò bằng sức nước để bảo vệ bề mặt tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh; 2) Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị lắp đặt vì chống đào lò xây dựng cơ bản; 3) Nghiên cứu công nghệ tuyển than don xô vùng Quảng Ninh bằng thiết bị tuyển xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm.

Hội đồng KHCN nghiệm thu các đề tài nói trên được thành lập theo Quyết định số 558/QĐ-BCT, ngày 27/2/2017.

1) Đối với đề tài Nghiên cứu lựa chọn vật liệu chèn hợp lý trong công nghệ chèn lò bằng sức nước để bảo vệ bề mặt tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh.

Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Đức Nguyên

HĐKH gồm 9 thành viên, PGS. TS. Trần Văn Thanh, Trường Đại học Mỏ-Địa chất là Chủ tịch, KS. Nguyễn Văn Long, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Phó Chủ tịch, TS. Lê Văn Thao, Hội KH&CN mỏ Việt Nam, Ủy viên phản biện 1 và TS. Đào Văn Chi, Trường Đại học Mỏ-Địa chất, Ủy viên phản biện 2.

 

Theo báo cáo trình bày tại Hội nghị, vùng than Quảng Ninh có khoảng 2,1 tỷ tấn trữ lượng nằm dưới các công trình, đối tượng cần bảo vệ trên bề mặt, phải để lại các trụ than bảo vệ. Để khai thác phần than này, cần thiết phải áp dụng chèn lò. Trong các loại hình công nghệ chèn lò, bằng tự chảy, bằng khí nén … chèn lò thủy lực là giải pháp được lựa chọn khi khai thác than nằm dưới các công trình có yêu cầu khắt khe về mức độ sụt lún. Trong công nghệ chèn lò thủy lực, việc lựa chọn vật liệu chèn hợp lý là một điều kiện quyết định đến sự thành công của công nghệ. Để đảm bảo chức năng chống sụt lún trên bề mặt địa hình, đòi hỏi vật liệu chèn phải có khả năng nhanh chóng liên kết tạo khối, cường độ kháng nén của khối chèn phải đạt được giá trị nhất định. Để thuận lợi trong thi công, vật liệu chèn phải có cỡ hạt hợp lý, thoát nước tốt, không bám dính trên đường ống… Và một yêu cầu quan trọng nữa, vật liệu chèn phải rẻ nhất, sẵn có trong khu vực thi công. Để giải quyết các vấn đề nói trên, trong quá trình thực hiện, đề tài đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu, bao gồm: 1) Tổng hợp kinh nghiệm lựa chọn vật liệu chèn trong công nghệ chèn lò thủy lực khai thác than dưới đối tượng bảo vệ bề mặt tại các nước trên thế giới; 2) Nghiên cứu lựa chọn vật liệu chèn lò thủy lực để bảo vệ bề mặt tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh; 3) Thiết kế giải pháp chèn lò cho lò chợ VM-K8-7 khu Vũ Môn, Công ty than Mông Dương.

Tại Hội nghị, HĐKH đánh giá, đề tài đã hoàn thành toàn bộ các nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu hợp lý, chất lượng nghiên cứu có độ tin cậy cao. HĐKH đã thống nhất nghiệm thu đề tài và đánh giá đạt loại khá.

2) Đối với đề tài Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị lắp đặt vì chống đào lò xây dựng cơ bản.

Chủ nhiệm đề tài: TS. Ngô Quốc Trung.

HĐKH gồm 9 thành viên, PGS. TS. Nguyễn Đức Sướng, Trường Đại học Mỏ-Địa chất là Chủ tịch, KS. Nguyễn Văn Long, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Phó Chủ tịch,PGS. TS. Vũ Nam Ngạn, Trường Đại học Mỏ-Địa chất, Ủy viên phản biện 1 và TS. Đỗ Trung Hiếu, Viện Cơ khí Năng lượng và mỏ-Vinacomin, Ủy viên phản biện 2.

 
 

Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là nhằm tăng năng suất, an toàn và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động trong công tác đào chống lò. Bám sát mục tiêu này, Đề tài đã tập trung vào các nội dung chính bao gồm: Nghiên cứu tổng quan hiện trạng công tác lắp đặt vì chống trong đào lò xây dựng cơ bản tại Việt Nam và Thế giới; Nghiên cứu đề xuất giải pháp lắp đặt vì chống và sơ đồ kết cấu thiết bị hỗ trợ lắp đặt; Thiết kế tính toán tổ hợp thiết bị phục vụ lắp đặt vì chống; Thiết kế lắp đặt bản vẽ và quy trình công nghệ chế tạo một số chi tiết thiết bị.

HĐKH đã thống nhất đánh giá: Đề tài đã hoàn thành đủ các nội dung nghiên cứu được quy định trong hợp đồng, đề cương; về tính cấp thiết của đề tài, phương pháp nghiên cứu tiên tiến, hợp lý, độ tin cậy cao. Bên cạnh đó, HĐKH cũng chỉ ra một số tồn tại, đề tài cần hoàn thiện trước khi bàn giao tài liệu, đó là: Về nội dung, cần mô tả chi tiết hơn quy chế vận hành thiết bị hỗ trợ lắp đặt vì chống, trong tổng thể quy trình đào, chống lò; Về hình thức trình bày, cần sửa lỗi chính tả, lỗi in ấn, ngữ pháp, thống nhất các thuật ngữ, thứ nguyên…

Kết quả nghiên cứu của đề tài được đánh giá đạt yêu cầu và HĐKH đồng ý nghiệm thu đề tài.

3) Đối với đề tài Nghiên cứu công nghệ tuyển than don xô vùng Quảng Ninh bằng thiết bị tuyển xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm.

Chủ nhiệm đề tài: KS. Đỗ Nguyên Đán.

HĐKH gồm 9 thành viên, PGS. TS. Nguyễn Hoàng Sơn, Trường Đại học Mỏ-Địa chất là Chủ tịch, KS. Nguyễn Văn Long, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Phó Chủ tịch, TS. Chu Công Dần, và TS. Lê Việt Dũng, Hội KH&CN mỏ Việt Nam, Ủy viên phản biện.

 
 

Tại Việt Nam, trong việc tuyển than, các xưởng tuyển tại mỏ thường áp dụng công nghệ tuyển huyền phù tang quay manhetit, huyền phù tự sinh, tuyển khí, máy lắng lưới chuyển động… còn trong các nhà máy tuyển than, như Cửa Ông 1, 2, Hòn Gai áp dụng công nghệ tuyển gồm 2 khâu, tuyển máy lắng kết hợp xoáy lốc huyền phù 2 sản phẩm, Vàng Danh là công nghệ tuyển huyền phù bể và Lép Mỹ là tuyển huyền phù tự sinh. Nói chung, các nhà máy tuyển đều áp dụng công nghệ tuyển, với 2 khâu tuyển trở lên, do đó, sơ đồ công nghệ phức tạp, chi phí vận hành lớn.

Tại nhiều nước trên thế giới, từ lâu, người ta đã áp dụng phổ biến công nghệ tuyển than bằng thiết bị xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm, trong đó, đặc biệt là công nghệ tuyển xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm không áp.

Từ đó, ở đề tài này tập trung nghiên cứu nhằm đưa vào áp dụng công nghệ tuyển than bằng xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm không áp vào áp dụng trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng than, tận thu tài nguyên và giảm giá thành sản xuất.

Với mục tiêu này, đề tài đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu: 1) Tổng quan tình hình nghiên cứu và áp dụng thiết bị xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm trong tuyển than trên thế giới và Việt Nam; 2) Nghiên cứu đặc tính than tại mỏ Hà Ráng; 3) Thiết kế, chế tạo và lắp đặt dây chuyền tuyển xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm quy mô phòng thí nghiệm; 4) Thử nghiệm tuyển mẫu than mỏ Hà Ráng trên dây chuyền xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm trong phòng thí nghiệm; 5) Tính toán xây dựng một dây chuyền tuyển nâng cao chất lượng than bằng xoáy lốc huyền phù 3 sản phẩm.

HĐKH đánh giá, đề tài đã hoàn thành toàn bộ các nội dung nghiên cứu theo hợp đồng, đề cương được duyệt, với kết quả nghiên cứu có chất lượng cao, đồng thời, thống nhất nghiệm thu đề tài ở mức độ xuất sắc./. 

Phần mềm quản lý văn bảnTập đoàn than khoáng sản Việt NamCông ty TNHH MTV phát triển CN và TB Mỏ - IMSATGiới thiệu Thông tin khoa học công nghệ mỏ số 7 nă