Hội nghị nghiệm thu cấp Bộ Công Thương, đề tài do Viện Khoa học Công nghệ Mỏ-Vinacomin chủ trì thực hiện

Ngày 30/5/2017, Bộ Công Thương đã tổ chức nghiệm thu 3 đề tài do Viện Khoa học Công nghệ Mỏ-Vinacomin chủ trì thực hiện: 1) Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật công nghệ khoan nổ mìn nhằm giảm hệ số thừa tiết diện khi thi công giếng đứng chống bằng bê tông liền khối, phù hợp với điều kiện các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh; 2) Nghiên cứu thiết kế vì chống thép phục vụ chống giữ các đường lò tiết diện lớn bằng thép V (có mô men chống uốn cao) trong các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh; 3) Nghiên cứu ứng dụng nano sắt để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao.
 

Hội đồng KHCN nghiệm thu các đề tài nói trên được thành lập theo Quyết định số 558/QĐ-BCT, ngày 27/2/2017.

Như tin đã đưa, trong năm 2016, Viện Khoa học Công nghệ Mỏ-Vinacomin được Bộ Công Thương tuyển chọn, giao thực hiện 9 đề tài, ngày 24/5/2017 vừa qua, 3 đề tài đã được nghiệm thu và hôm nay, tiếp tục nghiệm thu 3 đề tài nói trên.

1) Đối với đề tài Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật công nghệ khoan nổ mìn nhằm giảm hệ số thừa tiết diện khi thi công giếng đứng chống bằng bê tông liền khối, phù hợp với điều kiện các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh.

Chủ nhiệm đề tài: TS. Trịnh Đăng Hưng

HĐKH gồm 9 thành viên, PGS. TS. Nguyễn Xuân Mãn, Trường Đại học Mỏ-Địa chất là Chủ tịch, KS. Nguyễn Văn Long, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Phó Chủ tịch, TS. Đặng Trung Thành và TS. Trần Tuấn Minh, Trường Đại học Mỏ-Địa chất là các Ủy viên phản biện, ThS. Cù Huy Quang, Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Ủy viên, Thư ký KH .

Theo báo cáo trình bày tại Hội nghị, trong khai thác than hầm lò, để khai thác xuống sâu, nhiều mỏ đã và sẽ áp dụng mở vỉa bằng giếng đứng, gần đây nhất là mỏ Hà Lầm, Núi Béo và Khe Chàm II-IV. Những giếng đứng này được thi công đào sâu bằng khoan nổ mìn. Tuy nhiên, hiệu quả nổ mìn không cao, hệ số thừa tiết diện lớn, làm giảm năng suất khi thi công, đồng thời tăng chi phí đào giếng…

Để giải quyết các vấn đề nói trên, trong quá trình thực hiện, đề tài đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu, bao gồm: 1) Tổng quan các phương pháp thi công giếng đứng; 2) Đánh giá hiện trạng thi công giếng đứng bằng khoa nổ mìn vùng Quảng Ninh; 3) Phân tích, đánh giá các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới hiệu quả khoan nổ mìn; 4) Nghiên cứu các phương pháp khoan nổ mìn tạo biên trong thi công giếng đứng; 5) Đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả đào giếng đứng ở các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh.

Tại Hội nghị, HĐKH đánh giá, đề tài đã hoàn thành toàn bộ các nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu hợp lý, chất lượng nghiên cứu có độ tin cậy cao.

Với 7/8 phiếu xuất sắc, HĐKH đã thống nhất nghiệm thu đề tài và đánh giá đạt loại xuất sắc.

2) Đối với đề tài Nghiên cứu thiết kế vì chống thép phục vụ chống giữ các đường lò tiết diện lớn bằng thép V (có mô men chống uốn cao) trong các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh.

 
 

Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Văn Công.

HĐKH gồm 9 thành viên, PGS. TS. Nguyễn Xuân Mãn, Trường Đại học Mỏ-Địa chất là Chủ tịch, KS. Nguyễn Văn Long, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Phó Chủ tịch, TS. Đặng Trung Thành và TS. Trần Tuấn Minh, Trường Đại học Mỏ-Địa chất là các Ủy viên phản biện, ThS. Cù Huy Quang, Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Ủy viên, Thư ký KH .

Thực tế, trong việc chống giữ các đường lò mỏ, kể cả các đường lò tiết diện lớn, chúng ta vẫn sử dụng vì chống thép tiết diện chữ U, với vật liệu là thép thường, loại CT. Trường hợp đường lò tiết diện lớn, kết cấu vì chống sẽ rất nặng nề, vừa khó khăn trong thi công, chi phí chống lò tăng, nhưng mức độ ổn định của đường lò vẫn bị hạn chế. Từ những kinh nghiệm thực tế ở một số nước phát triển, mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là thay thế vì chống lò tiết diện lớn hiện tại bằng loại kết cấu chống phù hợp, đảm bảo khả năng chịu lực và thuận tiện trong thi công. Bám sát mục tiêu này, Đề tài đã tập trung vào các nội dung chính bao gồm: 1) Đánh giá đặc điểm điều kiện địa chất mỏ vùng Quảng Ninh, ảnh hưởng đến ổn định đường lò tiết diện lớn; 2) Tổng quan về sử dụng vì chống linh hoạt bằng thép chữ V, chống lò tiết diện lớn trong và ngoài nước; 3) Phân tích, đánh giá các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến khả năng mang tải của vì chống thép tiết diện chữ V, chống giữ các đường lò tiết diện lớn; 4) Nghiên cứu, tính toán, thiết kế vì chống thép tiết diện chữ V chống lò tiết diện lớn tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh.

HĐKH đã thống nhất đánh giá: Đề tài đã hoàn thành đủ các nội dung nghiên cứu được quy định trong hợp đồng, đề cương; về tính cấp thiết của đề tài, phương pháp nghiên cứu tiên tiến, hợp lý, độ tin cậy cao. Bên cạnh đó, HĐKH cũng chỉ ra một số tồn tại, đề tài cần hoàn thiện trước khi bàn giao tài liệu, đó là: Về nội dung, cần mô tả chi tiết hơn quy chế vận hành thiết bị hỗ trợ lắp đặt vì chống, trong tổng thể quy trình đào, chống lò; Về hình thức trình bày, cần sửa lỗi chính tả, lỗi in ấn, ngữ pháp, thống nhất các thuật ngữ, thứ nguyên…

Với 5/8 phiếu xuất sắc, kết quả nghiên cứu của đề tài được đánh giá đạt loại xuất sắc.

3) Đối với đề tài Nghiên cứu ứng dụng nano sắt để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao.

Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Bình Dương.

HĐKH gồm 9 thành viên, PGS. TS. Lưu Đức Hải, Trường Đại học KHTN, Đại học Quốc gia là Chủ tịch, KS. Nguyễn Văn Long, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Phó Chủ tịch, TS. Phan Quang Thăng, Viện Công nghệ Môi trường, Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ủy viên phản biện 1, TS. Lưu Đức Phương, Viện Hóa học, Ủy viên phản biện 2 và ThS. Cù Huy Quang, Vụ KHCN và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương là Ủy viên, Thư ký KH .

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, trong công nghiệp khai khoáng, nước thải mỏ, nhất là các mỏ khai thác khoáng sản, các cơ sở luyện kim… chứa nhiều kim loại nặng, như đồng, chì , sắt, man gan. Để xử lý nước thải loại này, các công nghệ hiện tại đang áp dụng, hiệu quả thấp, đặc biệt chi phí vận hành cao, 7000 – 8000đ/m3 nước. nhiều nước phát triển đã ứng dụng công nghệ nano trong xử lý nước. Kinh nghiệm cho thấy, công nghệ này có thể xử lý hiệu quả nguồn thỉa có nhiều tạp chất khó xử lý, công trình xử lý không đòi hỏi diện tích lớn, dễ dàng trong vận hành và quản lý sử dụng… Những năm gần đây, Tại Việt Nam, chế phẩm nano đã được nghiên cứu áp dụng trong một số lĩnh vực, như xử lý ô nhiễm không khí, trong nông nghiệp… Từ đó, Đề tài này tập trung nghiên cứu ứng dụng nano sắt để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao.

Theo Báo cáo tổng kết, đề tài đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu: 1) Khảo sát thực trạng xử lý nước thải mỏ của ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam; 2) Tổng quan về ứng dụng công nghệ nano trong và ngoài nước; 3) Nghiên cứu lựa chọn chế phẩm nano, ứng dụng để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao; 4) Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao bằng nano sắt.

HĐKH đánh giá, đề tài đã hoàn thành toàn bộ các nội dung nghiên cứu theo hợp đồng, đề cương được duyệt, kết quả nghiên cứu có tính khoa học và thực tiễn cao, đồng thời, thống nhất nghiệm thu đề tài ở mức độ xuất sắc./.

Phần mềm quản lý văn bảnTập đoàn than khoáng sản Việt NamCông ty TNHH MTV phát triển CN và TB Mỏ - IMSATGiới thiệu Thông tin khoa học công nghệ mỏ số 7 nă