Giới thiệu Thông tin khoa học công nghệ mỏ số 9 năm 2014

Dự án đầu tư khai thác hầm lò mỏ Khe Chàm II – IV là dự án thứ hai mở vỉa bằng giếng đứng có quy mô lớn Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam giao cho Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin làm tổng thầu tư vấn thiết kế với tiêu chí mỏ sạch, mỏ an toàn, hiện đại theo tiêu chuẩn châu Âu, tiết kiệm tài nguyên, khoáng sản.

Trong số tháng 9, Thông tin khoa học công nghệ mỏ giới thiệu một số hình ảnh và kết quả ban đầu của Dự án này trên trang bìa 1 và 2. Cũng trong số này, Phòng Tư vấn Xây dựng và Quản lý Đầu tư và Phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai thác Hầm lò được giới thiệu trên trang bìa 3 và 4.
Trong phần Nghiên cứu – Trao đổi, Thông tin khoa học công nghệ mỏ số 9 trân trọng giới thiệu bài viết “Đề xuất sửa đổi Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn (QCVN 01:2011/BCT) trong khai thác than hầm lò” của TS. Takehiro Isei và TS. Trần Tú Ba, phần giới thiệu những kết quả của hoạt động nghiên cứu triển khai của Viện là những bài viết thuộc các lĩnh vực công nghệ khai thác hầm lò, an toàn mỏ, cơ điện - tự động hóa và địa cơ mỏ. Phần Thông tin – Tư liệu giới thiệu bài viết “ Kỹ thuật khai thác lò chợ hạ trần than nóc tại Trung Quốc” và bài viết “Nghiên cứu xác định các chỉ số khí để dự báo và xử lý hiện tượng than tự cháy trong các vụ cháy mỏ than hầm lò”. Phần Chế độ chính sách, Văn bản mới, giới thiệu Quyết định số 6613/QĐ-BCT và Nghị định số 78/2014/NĐ – CP

Mời độc giả đón xem!
 
 
  Dưới đây, xin tóm tắt nội dung chính của từng bài báo:

Bài 1: Đề xuất sửa đổi QCVN 2011

Proposals on the modification

Tác giả: TS. Takehiro Isei, TS. Trần Tú Ba

Kể từ khi Quy phạm kỹ thuật an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch TCN-14-06-2006 (QPAT 2006) hay còn gọi là QPAT 2000, được ban hành, đã có nhiều vấn đề trong các quy định này đối với mỏ than cần phải xem xét, sửa đổi nhằm tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện. Trong bài báo này, tác giả đưa ra các ví dụ cụ thể về nội dung các điều, từ đó, đề xuất giải pháp tốt nhất để sửa đổi QCVN 2011 về khía cạnh kỹ thuật.

Since the safety engineering regulations for underground shale and coal mines TCN-14-06-2006 (Safety Regulations 2006) also so-called Safety Regulations 2000 has been promulgated, there have been many problems in these regulations that need to be considered and modified for making advantages in its implementation process. In this paper, the authors provide some concrete examples on the contents of the articles, and then propose the best solutions for modifying QCVN 2011 in respect of technical aspect

Bài 2: Nghiên cứu áp dụng thử nghiệm dàn chống mềm loại ZRY trong điều kiện các vỉa than mỏng có chiều dày trung bình , góc dốc trên 450 tại Công ty than Hồng Thái

     Study on the pilot application of the flexible shield ZRY to the thin coal seams with the medium thickness and the dip angle over 450 at Hong Thai Coal Company

Tác giả: TS. Trương Đức Dư, ThS. Trần Tuấn Ngạn, TS. Lê Đức Vinh, KS. Trương Tiến Quân

Dàn chống mềm loại ZRY được sử dụng thử nghiệm trong công nghệ khai thác lò chợ xiên chéo để khai thác các vỉa than có chiều dày trung bình, góc dốc trên 450 tại Công ty Than Hồng Thái có những ưu điểm nổi bật so với các loại dàn chống trước đây như: kết cấu dàn chống đơn giản, trọng lượng nhẹ, dễ tháo lắp hoặc thay thế, thích ứng cao trong điều kiện vỉa có biến động về chiều dày và góc dốc. Trong bài viết này, các tác giả đã trình bày một số kết quả trong quá trình áp dụng thử nghiệm công nghệ nói trên tại Công ty than Hồng Thái trong thời gian qua.

The flexible shield ZRY, which has been used in the diagonal longwall mining technology for the coal seams having medium thickness and the dip angle over 450 at Hong Thai coal Company, has some dominant advantages compared with the previous ones such as its simple structure, lightweight, easy in installation or replacement, highly suitable to the variation in thickness and dip angle of the coal seams. In this paper, the authors represent some results from the pilot application of the above mentioned to Hong Thai Coal Company recently

Bài 3: Vấn đề dịch chuyển, biến dạng sụt lún đất đá khi khai thác than và các yếu tố ảnh hưởng

      About the rock displacement, deformation and subsidence in coal mining activities and the factors causing impacts

Tác giả: TS. Lê Văn Công, KS. Phí Văn Long, KS. Tào Văn Ngân

 Gần đây, tại vùng than Quảng Ninh, các hoạt động khai thác hầm lò đã cho thấy, vấn đề sụt lún, dịch chuyển, biến dạng đất đá ảnh hưởng đến các công trình khai thác và xây dựng. Do vậy vấn đề nghiên cứu, điều khiển dịch động đảm bảo an toàn cho các công trình cần được xúc tiến, đáp ứng các nhu cầu cấp thiết trong thực tiễn sản xuất.

Recently, underground coal mining activities in Quang Ninh coal basin have shown that, the rock displacement, deformation and subsidence have impacted on the mining and construction buildings. Therefore, it is neccesary to carry out research on displacement control for ensuring the safety of the constructions

Bài 4: Nghiên cứu định hướng áp dụng neo cáp chống lò, lựa chọn đồng bộ dây chuyền thiết bị, vật liệu thi công chống lò bằng vì neo

       Orientational study on the application of the cable anchors to support works, selection of the equipment and materials for support works with anchor bolts

Tác giả: KS. Nông Việt Hùng, KS.Nguyễn Xuân Trường, TS. Nguyễn Phi Hùng

Để đápng yêu cu vsn lượng, gim chi phí đào chng lò, nhng năm gn đây, nhiều mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh đã áp dụng chng lò bằng vì neo, bước đầu đã thành công và cho kết qukhquan. Tuy nhiên, đến nay khối lượng đường lò chống bằng kết cấu neo vẫn còn hạn chế, chỉ khoảng 1% tổng khối lượng lò đào hàng năm. Trong bài báo này, các tác giả đề xuất một số phương pháp lựa chọn, áp dụng chống giữ công trình ngầm bằng vì neo kết hợp neo cáp, đồng thời giới thiệu một số tổ hợp thiết bị, vật liệu và giải pháp thi công chống lò bằng vì neo chống giữ các công trình ngầm có tiết diện, khẩu độ lớn trong các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh.

For meeting the requirements of the coal output, decreasing the expenses in driving and support works, recently, the anchor bolts have been used in support works at many underground coal mines in Quangninh with initial significant achievements. However, the length of the drifts supported with the anchor bolts has been limited, accounting for 1% of the total annual driven ones. In this paper, the authors refer to the orientational study on the application of the cable anchors to support works, selection of the equipment and materials for support works with anchor bolts

Bài 5: Thử nghiệm xác định nhiệt độ bắt lửa của bụi than

      Testing for determining the ignition temperature of coal dust

Tác giả: ThS. Lê Trung Tuyến, ThS. Nguyễn Tuấn Anh, TS. Takehiro Isei

Bụi than phát sinh trong các khâu sản xuất than có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến việc đảm bảo an toàn về cháy nổ trong các mỏ hầm lò. Trong bài báo này, tác giả đề cập đến vai trò của bụi than đối với sự hình thành các nguy cơ tiềm ẩn trong mỏ hầm lò như cháy mỏ, nổ khí và bụi than khi có sự kết hợp của bụi than và các nguồn nhiệt. Bên cạnh đó, tác giả giới thiệu phương pháp cũng như các kết quả của việc thử nghiệm xác định nhiệt độ bắt cháy của bụi than để từ đó có cái nhìn chung về hiểm hoạ của bụi than trong các mỏ hầm lò hiện nay.

Coal dust generated from the coal production links has played an important role, impacting on the safety assurance of mine fire and explosion at underground coal mines. In this paper, the authors refer to the role of coal dust in forming potential hazards at underground coal mines such as mine fire, coal dust and firedamp explosions under the combination with the heat source. Moreover, the authors introduce the experimental results from the determination the ignition temperature of coal dust for reviewing the hazards caused by coal dust at underground coal mines nowadays

Bài 6: Cơ sở khí động học cháy tầng sôi và một số biện pháp nâng cao hiệu suất cháy lò hơi trong các nhà máy nhiệt điện của TKV

      The aerodynamic base for the fluidized-bed combustion and some measures for increasing the combustion efficiency of the steam generators at the thermal power plants belonging to Vinacomin

Tác giả: KS. Phạm Anh Hải, ThS. Đỗ Tiến Đạt

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là một trong những đơn vị tham gia sản xuất điện năng từ nguồn nhiên liệu hóa thạch (than antraxít chất lượng thấp). Ưu điểm của các nhà máy nhiệt điện của Tập đoàn là sử dụng công nghệ tầng sôi tuần hoàn cho phép sử dụng các loại than đốt chất lượng thấp. Trong bài viết này, các tác giả để cập đến cơ sở khí động học cháy tầng sôi và một số biện pháp nâng cao hiệu suất cháy lò hơi trong các nhà máy nhiệt điện của TKV  

Vietnam National Coal – Mineral Industries Holding Corporation Limited (Vinacomin) is one of the units producing electricity from fossil fuels (low quality anthracite coal). One of the advantages from its thermal power plants is the application of the circulating fluidized bed combustion with the low quality coal. In this paper, the authors refer to the aerodynamic base for the fluidized-bed combustion and some measures for increasing the combustion efficiency of the steam generators at the thermal power plants belonging to Vinacomin

Bài 7: Một số giải pháp thiết kế máng cào loại vừa, phù hợp năng lực công nghệ trong nước

     Design solutions for middle scraper conveyors suitable to domestic manufacturing technology potential

Tác giả: ThS. Hứa Ngọc Sơn, TS. Đỗ Trung Hiếu, ThS. Nguyễn Trọng Tài - Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ - Vinacomin

Trong tương lai, nhu cầu sử dụng máng cào loại vừa trong Vinacomin sẽ tăng cao. Bài báo trình bày các vấn đề liên quan đến lựa chọn các thông số kỹ thuật, kết cấu máng cào loại vừa phù hợp với năng lực chế tạo của các đơn vị cơ khí trực thuộc Vinacomin.

In the future, requirements of scraper conveyors with middle capacity within Vinacomin will be increased. The paper introduces some problems related to the selection of technical specifications and structures of these conveyors suitable to the manufacturing potential of Vinacomin’s mechanical engineering factories.

Bài 8: Xác định kích thước giới hạn của cửa tháo bun ke vật liệu rời trên cơ sở lý thuyết tạo vòm vật liệu

      Determination of limited dimentions of bulk material bunker’s oulet hole on the basis of theoria arching

Tác giả: ThS. Hoàng Văn Vĩ, TS. Trịnh Tiến Khỏe - Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ - Vinacomin

Bài báo giới thiệu quá trình tạo vòm trong bunke vật liệu rời và phương pháp xác định kích thước giới hạn của cửa tháo để không tạo vòm trong khi làm việc.

This paper represents the process of arching in bulk material’s bunker and method of determining the limited dimentions of oulet hole to preclude arching in the working time

Bài 9: Khả năng hạn chế tai biến địa chất từ kinh nghiệm thực tế thi công công trình ngầm

   The capability for mitigating geological hazards and risks from the practical experiences during the execution of the underground constructions

Tác giả: KS.Vũ Văn Tính, ThS. Hoàng Ngọc Tú, ThS. Đàm Khắc Lĩnh, GS.TS. Nguyễn Quang Phích, ThS. Phạm Anh Tuấn

Điều kiện địa chất phức tạp và những nguy cơ về địa chất hiện đang là những vấn đề thách thức trong đào lò và khai thác mỏ, gây ra những tổn thất nặng nề về con người và tài sản. Vì vậy, bên cạnh việc dự báo tin cậy về những đặc tính khuyết tật địa chất như các đứt gãy, phay phá, hang động cactơ, nước ngầm và khí mỏ, cần thiết phải thu thập các kinh nghiệm thực tế nhằm giảm thiểu những tai biến và rủi ro về địa chất trong quá trình đào lò. Bài báo giới thiệu một số dạng rủi ro và những bài học rút ra từ thực tế

The complicated geological conditions and geological hazards are challenging problems in mining and tunneling, which have caused great losses of life and property. Therefore, beside the reliable prediction of geological defective features, such as faults, karst caves and groundwater and gas, it is necessary to collect practical experiences in order to mitigate geological hazards and risk during tunneling. The paper shows some forms of risk and the lessons learned from praxis

Tải File đính kèm: Click vào đây

Phần mềm quản lý văn bảnTập đoàn than khoáng sản Việt NamCông ty TNHH MTV phát triển CN và TB Mỏ - IMSAT